Thứ Ba, 4 tháng 2, 2014
Lão nông 89 tuổi ngâm Kiều để 'trả ơn' vì lấy được vợ
Gặp khách lạ hay khách quen, trong mỗi câu chuyện của ông đều xen vào những câu thơ thanh nhã, nào Kinh Thi, thơ Nôm, thơ cổ, còn có cả hò vè, đối đáp, hát duyên, hát ghẹo,… khiến người đối diện đi hết kinh ngạc này đến ngạc nhiên khác. Và chuyện ông lấy được vợ cũng là một điều vô cùng xăm. Lấy vợ... Nhờ ngâm Kiều Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho học, cha là Phạm Hiệp, tuy chỉ giữ chức Thủ Sắc của xã nhưng ông lại là một bậc túc nho nổi danh khắp vùng bởi tài nghệ văn học và viết chữ Hán rất đẹp. Nhờ vậy mà ngay từ nhỏ, cậu bé Phạm Trung Tiên đã được thừa hưởng tài nghệ của cha và được truyền dạy văn học chữ nghĩa nên Tiên thông minh và thông suốt hơn các bạn cùng chè. Lớn hơn một tí, Tiên được đay nghiến cho đi học chữ Quốc ngữ tại một ngôi trường nhỏ ở địa phương. Sau khi đậu Yếu lược xong, cha Tiên lại gửi ông đến nhà thầy Cả Liễng để tiếp tục học chữ Hán. Nhờ sáng dạ nên chẳng mấy chốc cậu học sinh nhà quê ngày nào đã mau chóng tinh thông cả chữ Hán ngữ và Quốc ngữ. Thế nhưng mỗi khi được về nhà, cậu học trò này lại mê mải với những cuốn truyện thơ Nôm của cha để lại như: Truyện Kiều, Lâm Xanh Xuân Nương, Thoại Khanh Châu Tuấn... Những lời thơ dân dã, bình dị như dòng nước trong mát ngọt lành của Đầm Trà Ổ quê ông không biết tự bao giờ thấm đẫm vào tâm hồn của cậu học trò hiếu học. Từ đó, hàng ngày ở nhà thầy Cả Liễng, Tiên học chữ Hán, bình Kinh Thi, nhưng mỗi khi có dịp là anh chàng lại mang Truyện Kiều ra ngâm cho bạn bè đồng môn nghe. Trong những đêm gió mát trăng thanh, nhóm bạn đồng môn và thanh niên nam nữ trong vùng lại rủ nhau ra Đầm Trà Ổ ngắm trăng, đối đáp văn thơ. Mỗi khi, những câu Kiều của học trò Tiên cất lên, ai nấy đều say mê, đắm đuối, trong đó có cô gái Đặng Thị Khuôn, cháu gái của thầy Cả Liễng. Từ chỗ mê thơ, cô gái tuổi cặp kê đã “tình trong như đã mặt ngoài còn e” với người ngâm. Biết cháu gái có ý tình với Tiên, phần vì ái mộ tài đức của cậu học trò cưng, thầy Cả Liễng bèn ướm lời gả cháu gái cho Tiên. Cậu học sinh nghèo lấy làm bất thần, nhưng vui như mở cờ trong bụng, ngay lập tức chạy về nhà báo ngay cho ba má để mang sính lễ sang dạm hỏi và rước cháu gái của thầy về. Cho đến bữa nay, khi nhắc đến cái “duyên kỳ ngộ” này, cụ Khuôn vẫn không giấu được niềm xúc động: “Hồi đó, ổng (cụ Tiên-PV) là người dân ở đầm, ở biển ăn sóng nói gió là thế, nhưng cứ mỗi khi ngâm Kiều là giọng ổng lại trở thành ngọt ngào truyền cảm lạ lùng. Mỗi lần nghe ổng ngâm là tui lại mủi lòng, không biết do thương cho thân phận cô Kiều, hay thương người ngâm thơ mà lại nên vợ thành chồng cho đến tận bây giờ”. Con cháu quây quần nghe cụ Tiên ngâm Kiều. Địch lầm bắt được “cán bộ to” Sau vài năm chung sống bên nhau, chàng thanh niên tài tình ra đi theo tiếng gọi lẻ của sơn hà, tham dự phóng thích quân hoạt động đến tận miệt Phú Yên, Khánh Hòa. Trong buổi chia tay đầy nước mắt, tuy bịn rịn, quyến luyến, nhưng vợ anh không quên căn dặn, khuyên nhủ chồng đừng vì cực khổ mà ngã về phe địch. Xúc động, anh giải phóng quân Phạm Trung Tiên liền làm một bài thơ tặng vợ để yên lòng: “Anh về trại giải phóng quân, Em về em nhập vào quân vệ đoàn. Nước nhà mình phải toan lo, Làm cho cơ sở hoàn toàn tự do. Ra đi em cố dặn dò, Đừng làm nô lệ giúp cho giặc ngoài. Em về em hẹn ngày đêm, Cùng chàng cứu nước chớ sai tấc lòng”. Trong quãng thời gian gần 15 năm tham dự cách mạng, từng vào sinh ra tử, bị bắt tù đày trong nhà tù của địch với nhiều gian nan, khổ ải, nhất là những trận đòn roi ở nhà lao Pleiku (Gia Lai). Tuy đau đớn về thể xác, song anh em đồng chí lúc bấy giờ ai nấy cũng không hề dao động. Đêm đêm, để động viên nhau chiến đấu với đói rét, đòn roi, bạn tù cùng nhau cất cao lời thơ, tiếng hát. Và khi những câu Kiều được Tiên cất lên khiến ai nấy đều cảm thấy xúc động, bùi ngùi. Năm 1954, khi có lệnh đi tụ họp nhưng do mới ra tù, quá ốm yếu, ghẻ lở đầy mình, cụ Tiên không bảo đảm sức khỏe nên phải ở lại địa phương. Ở nhà chưa được bao lâu, do thấy ông phong thái đĩnh đạc, mặt mày trắng trẻo, sáng sủa, không giống như một dân cày chân lấm tay bùn, nên bọn tay sai lại bắt ông bỏ tù. Đêm đêm, ông lại ngâm Kiều, đọc thơ khiến bọn địch cứ nghĩ ông là một “cán bộ to” của cách mệnh. Chúng còn bắt ông ra để chụp hình rồi gửi cho cấp trên báo rằng đã bắt được một ông Thường vụ Huyện ủy rồi khấp khởi chờ lĩnh thưởng. Thế nhưng khi tra khảo hồ sơ, phát hiện ra ông không phải là “cán bộ to” nên chúng cay cú lôi ông ra biệt giam ở Phòng Nhì, đánh đập cho hả dạ rồi phóng thích. Được về nhà, theo lời kêu gọi “diệt giặc đói, giặc dốt” của Bác Hồ, ông Tiên tham dự dạy bình dân học vụ ở địa phương. “Đây là khoảng thời gian được xem là vui nhất của tôi vì được làm việc hạp với gu, sở trường của mình là đem những tri thức, chữ nghĩa, văn chương để truyền đạt lại cho bà con quê hương. Rồi những lúc rỗi rãi nông nhàn, tôi lại lẩy Kiều, bình Kinh Thi cho vợ con và bà con trong thôn trang cùng nghe”, cụ Tiên háo hức kể. “Gần đất xa trời” vẫn thục 3.254 câu Kiều Giờ đây, khi đã ở cái tuổi “gần đất xa trời”, hai cụ vẫn sống với nhau như “vợ chồng son”, vì con cháu đã yên bề thất gia, mỗi người lập nghiệp một nơi. Với một tình ái mênh mông được “nàng thơ” vun đắp, mặc dù tuổi tác đã cao, chân yếu, tay run nhưng 3.254 câu Kiều của Đại Thi hào Nguyễn Du, ông vẫn thục làu không sót một chữ chỉ với một nghĩ suy là để “trả ơn”, bởi nhờ nó mà ông mới cưới được vợ. Trong những đêm trăng thanh gió nhẹ, vợ chồng cụ và nhiều người dân trong xóm thường ra Đầm Trà Ổ ngồi hóng mát, khi ấy cụ Tiên lại ngâm Kiều, lẩy Kiều góp vui, tận tâm giảng giải những câu, chữ mà người nghe chưa hiểu. Lắm lúc, bọn thanh niên thấy ông đã tuổi già sức yếu muốn “thử lửa” cụ nên hỏi đôi ba câu, lúc thì đoạn đầu, khi thì đoạn cuối, song ông vẫn đọc vanh vách từng câu, từng đoạn chứ không vấp chỗ nào. Hơn chục năm nay, khi tuổi đã cao, con cái đã yên bề gia thất nên vợ chồng cụ Tiên không còn phải “lao tâm khổ tứ” nữa mà về “ở ẩn”, vui thú điền viên nơi quê nhà. Nhờ rỗi rãi, những lúc nằm ngơi nghỉ, thốt nhiên cụ Tiên lại nhớ lại những bài thơ xưa kia mình đã học, đã thuộc, để rồi một số câu từ bị lãng quên tự nhiên lại ùa về, in sâu vào tâm khảm ông. Nhờ thế, đến nay, ngoài thuộc vanh vách truyện Kiều, cụ Tiên còn thuộc gần như quờ quạng truyện thơ Nôm Thoại Khanh Châu Tuấn, Lâm Xanh Xuân Nương và nhiều câu hát kết, hát ghẹo, hát đưa duyên... Một điều đáng kinh ngạc và hiếm gặp hơn, tuy đã bước qua tuổi 89 nhưng chỉ cần đọc qua chừng 2 lần một bài thơ nào đó là ông đã thuộc và nhớ nằm lòng. Không chỉ thuộc thơ, ngâm thơ hay mà cụ Tiên còn làm được cả thơ, những bài thơ gần gũi với đời sống hàng ngày của mình như làm thơ tặng cho người đi biển, cho bà bạn bán bún tôm, một đặc sản của quê cụ. Và trong những dịp Lễ, Tết, giỗ chạp, bà con, cháu chắt hàng xóm lại tập kết về nhà cụ Tiên “bắt” cụ phải ngâm Kiều cho nghe và đặc biệt là phải đọc lại bài thơ mà cụ đã sáng tác tặng vợ khi đi giải phóng quân như một món quà vô giá để con cháu luôn nhớ về một người ông tài giỏi. Vế đối “bất hủ” của lão nông với vị lãnh đạo tỉnh Khi nhớ lại vế đối, treo thưởng rất hậu của một vị lãnh đạo tỉnh hơn chục năm trước khi về dự Lễ hội Đèo Nhông liễu vào mùng 5 Tết Nguyên đán, tuy các bậc cố lão trong vùng lúc bấy giờ “bó tay”, nhưng đột cụ lại “sáng ra”, đối lại rất chỉnh. Vế đối “Núi ông Nhạc, Truông Bà Đờn, Tây Sơn bừng nổi dậy” được cụ Tiên đối lại rằng: “Sông Cha khúc, Quanh Con rắn, Trưng Vương chìm si mê”. Vế đối này được chính vị lãnh đạo tỉnh thời ấy và nhiều người dân trằm trồ khen hay. Thanh Trúc