Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014
Đào tạo các ngành đặc thù: Cần kinh nghiệm hay học vị cao ?
Sinh viên Trường ĐH Sân khấu - Điện ảnh TP.HCM trong một buổi tập thi học kỳ - Ảnh: Đào Ngọc Thạch Bề dày kinh nghiệm là... Bảo chứng tiến sĩ Nguyễn Đức Nghĩa, Phó giám đốc ĐH Quốc gia TP.HCM, cho rằng: “Một số ngành văn hóa nghệ thuật đặc thù, giảng sư đứng lớp chính là những nghệ nhân dù không có học hàm học vị, nhưng họ là những người có bề dày kinh nghiệm rất đáng quý. Ngay lĩnh vực Sân khấu và điện ảnh, nếu đơn vị đào tạo có thể mời những diễn viên chuyên nghiệp và lừng danh đứng lớp sẽ giúp sinh viên có được rất nhiều kinh nghiệm quý trong quá trình học tập”. Từ đó, tiến sĩ Nghĩa cho rằng, vẫn cần tuân theo quy định chung về điều kiện giảng sư cho nhóm trường này nhưng với những ngành quá đặc thù thì có thể xem xét tùy vào điều kiện thực van chuyen hang tại. Bộ cần lập ra một hội đồng thẩm định để coi xét từng trường hợp cụ thể, vì không phải quơ các ngành thuộc lĩnh vực này đều đặc thù như nhau. “Nếu một mực giảng viên có học hàm học vị như quy định mới được dự giảng dạy sẽ là rào cản lớn với không ít những nghệ nhân. Và nếu không để sinh viên có điều kiện xúc tiếp với hàng ngũ này là sự phí phạm không nhỏ”, tấn sĩ Nghĩa nói thêm. Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh, Phó giám đốc Trung tâm tẩm bổ và tương trợ chất lượng giáo dục thuộc Hiệp hội Các trường ĐH, CĐ ngoài công lập, cũng nhất trí: “Quy định mở ngành giờ khi ứng dụng chung cho toàn bộ các ngành là không hợp lý. Học ĐH sẽ có những ngành và những môn đòi hỏi lý luận và người dạy các môn này vì vậy phải có trình độ tấn sĩ mới đáp ứng được yêu cầu. Nhưng còn rất nhiều môn mang tính nghề nghiệp thì đòi hỏi đầu tiên là những kinh nghiệm thực tại. Như vậy, nếu quy định quá nhấn mạnh bằng cấp hàn lâm thì chỉ tạo ra những người không có kinh nghiệm thực tại”. Đào tạo hướng nghiên cứu phải có tiến sĩ Trong khi đó GS-TSKH Trần Ngọc Thêm, Giám đốc trọng tâm văn hóa học lý luận và vận dụng thuộc Trường ĐH Khoa học tầng lớp và nhân văn TP.HCM, cho rằng không nên lấy cớ ngành đặc thù để đòi hỏi ngoại lệ. Trong đào tạo văn hóa nghệ thuật cũng có cả dạy nghề và dạy nghiên cứu, do vậy vấn đề quan yếu ở đây là cần phân biệt rõ 2 loại mục tiêu đào tạo này. “Nếu đã là đào tạo nghiên cứu (như lý luận văn hóa, quản lý văn hóa, lịch sử nghệ thuật...) Thì giảng sư ĐH cần phải có đủ chuẩn trình độ để giảng dạy như quy định chung với ắt các ngành. Trái lại, những ngành đào tạo nghề cần nhiều kinh nghiệm thực tại và kỹ năng nghề nghiệp thì phải xếp vào loại trường dạy nghề và có thể sử dụng hàng ngũ giảng viên là những nghệ sĩ, nghệ nhân theo chuẩn của loại trường dạy nghề”. Liên quan đến vấn đề này, một chuyên gia phát biểu chính trực: “Không có lý do gì để nói một lĩnh vực nào đó bị giới hạn trong đào tạo tiến sĩ. Có những trường đào tạo nghề suốt vài chục vận tải hàng hóa năm nhưng lại được nâng cấp thành trường ĐH nên chưa có đủ sự chuẩn bị về giảng viên đứng lớp cho đúng chuẩn với quy định đặt ra. Nếu chỉ đào tạo nghề thì không nên thành trường ĐH và người thầy cũng không khăng khăng phải có trình độ tiến sĩ”. Tấn sĩ Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng phòng Quản trị chiến lược Trường ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM, thừa nhận số lượng tấn sĩ trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật hiện thời còn hạn chế, nhưng nếu “vịn” vào lý do đó mà cho rằng không cần tấn sĩ đào tạo trong các trường ĐH này là không đúng. Đổi thay thước đo Hai luồng quan điểm trên đều có lý luận hợp lý. Vấn đề cần xem xét ở đây là mục đích của việc Bộ GD-ĐT cho dừng đào tạo những ngành không đủ tiêu chuẩn trình độ giảng sư theo quy định. Nếu Bộ là người “gác cửa” thì quyết định này hoàn toàn đúng nhưng nếu việc làm này nhằm giúp các trường phát triển thì phải coi xét lại. Như nhiều quan điểm nhấn mạnh, chẳng thể áp dụng một tiêu chí cho tuốt các ngành, nhất là những ngành thuộc loại nghề nghiệp, khiếu đặc thù. Như vậy, tại sao không nhân này Bộ có thể Thay đổi thước đo, bổ sung tiêu chí về trình độ giảng sư. Chẳng hạn với những ngành đặc thù, thay vì yêu cầu phải có ít ra một giảng viên trình độ tiến sĩ, Bộ có vận tải thể bằng lòng cách quy đổi học vị này thành các tên gọi khác như nghệ nhân, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ dân chúng… Điều này vừa hiệp với thực tại vừa tránh dẫn đến tình trạng hình thành một lực lượng “tiến sĩ giấy” không ai mong đợi. Ý kiến: Không nhiều người làm nghệ thuật có bằng tiến sĩ, thạc sĩ “Âm nhạc là một ngành khoa học cần phải được học bài bản, có tính hệ thống và lâu dài. Lý thuyết về âm nhạc mang tính nghiên cứu cần trình độ cao và chuyên sâu để giảng dạy. Tuy nhiên, hàng ngũ làm nghệ thuật mà có bằng cấp thạc sĩ, tấn sĩ lại không nhiều. Bắt đầu từ năm 2013 Nhạc viện TP.HCM được đào tạo trình độ tấn sĩ. Nếu tính về lâu dài thì hy vọng sẽ có nguồn giảng sư đáp ứng yêu cầu, nhưng trong thời khắc hiện tại vẫn khó”. Tấn sĩ Văn Thị Minh Hương (Giám đốc Nhạc viện TP.HCM) Xét nhu cầu của từng ngành học “Đối với ngành thanh nhạc, việc tuyển giảng sư trình độ thạc sĩ dễ hơn một chút, nhưng bên Sân khấu thì quả là khó. Do đó, một số ngành nghệ thuật của trường đẵn giảng sư là cử nhân hoặc nghệ nhân chứ khó có tiến sĩ, thạc sĩ. Bộ cần coi xét lại từng ngành học đặc thù, ngành nào chỉ cần giảng viên trình độ chi tiết tham khảo ĐH mà thực thụ giỏi nghề, ngành nào thì nhất định phải có trình độ tiến sĩ, thạc sĩ”. Thạc sĩ Lê Ngọc Hóa (Hiệu trưởng Trường CĐ Văn hóa nghệ thuật TP.HCM) Có thể “quy đổi” “Rất hiếm những người làm nghệ thuật có học hàm, học vị vì điều kiện tiên quyết để làm nghệ thuật là phải có khiếu. Nên chăng Bộ linh động trong việc đưa ra quy định riêng cho khối ngành nghệ thuật. Ví dụ nếu chưa có đủ thạc sĩ, tiến sĩ thì có thể sử dụng nghệ sĩ có danh hiệu để giảng dạy (nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ dân chúng) theo hình thức quy đổi”. PGS-TS Phan Thị Bích Hà (Hiệu trưởng Trường ĐH Sân khấu - Điện ảnh TP.HCM) Mỹ Quyên (ghi) Hà Ánh - Mỹ Quyên